Chào mừng quý vị đến với .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

Giảng dạy tư duy phân tích 9

A. PHẦN MỞ ĐẦU                 

 1.Lý do chọn đề tài

Sau nhiều năm Phần Lan nổi lên với những thành tựu kinh tế, khoa học, công nghệ làm cả thế giới khâm phục, người ta phát hiện ra cái gốc của sự thịnh vượng ấy là giáo dục. Trong cả thế kỷ qua, nước Mỹ đã chiếm vị trí số một trên hầu hết mọi lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt. Nếu nói trí thức là nói tài năng thì không đâu tài năng nở rộ nhiều như ở Mỹ. Nhiều người chúng ta bất bình, phẫn nộ chính đáng với một số chính sách nước lớn có khi quá tàn bạo của giới cầm quyền Mỹ, song vẫn chưa bao giờ hết ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của trí thức Mỹ mà những mầm mống thịnh vượng đã nảy nở từ những đại học đầu tiên khi Mỹ mới lập quốc. Vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục. Nước Pháp muốn khôi phục truyền thống văn hóa rạng rỡ của mình từ Thế kỷ Ánh sáng, nước Mỹ muốn tiếp tục dẫn đầu trong thế kỷ văn minh trí tuệ, đều thấy cần dựa vào trụ cột giáo dục. Mà trong giáo dục thì quan trọng trước hết là tư duy cơ bản về công tác giảng dạy và học tập.

Nhìn chung việc học được quan niệm trên là để hiểu biết và để làm. Tuy nhiên học thật sự không chỉ để biết và để làm. Trong xã hội đầy biến động ngày nay với sự toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự tăng vọt của thông tin, học cái gì và học như thế nào trở nên hết sức cần thiết nhưng chưa đủ. Làm sao một con người có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung quanh anh ta và sử dụng lượng kiến thức thu được để tác động vào thực tiễn? Cách duy nhất là học và cập nhật kiến thức suốt quãng đời của anh ta để biết, để hiểu, để có thể giao tiếp với người khác, để hiểu chính mình, hiểu người khác, và để có thể tồn tại. Và vì thế giới ngày càng xích lại gần nhau, mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội và phụ thuộc lẫn nhau cho nên bản thân mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau, và học để chung sống với nhau. Học sinh không phải học để biết quá khứ hay hiện tại. Mà các em phải học để có khả năng biết được tương lai và tự hoạch định cho mình! Mọi con đường dẫn đến khoa học, đến chân lý do đó không thể đóng kín mà phải được mở ra.

Với phương châm lấy người học làm gốc của giáo dục, chúng ta với vai trò của người thầy cần truyền thụ cho những học sinh của mình không chỉ kiến thức, đạo đức lối sống mà còn cần truyền thụ cho học sinh phương hướng học tập suốt đời đó là cách tư duy độc lập,tư duy phân tích và liên kết tổng thể trong mọi vấn đề của cuộc sống. Theo hướng đó chúng ta thực sự tìm thấy ý nghĩa của sứ mệnh cao cả và thiêng liêng của nhà giáo và đây cũng là lý do cá nhân tôi chọn đề tài “ Giáo dục tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh” là sáng kiến kinh nghiệm nhằm chia sẻ, cùng phân tích kinh nghiệm của bản thân trong việc phát huy tính tích cực, khơi dậy tính sáng tạo của người học.

2.  Mục đích, nhiệm vụ viết sáng kiến kinh nghiệm về công tác giáo dục tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh.

 Đánh giá được thực trạng giáo dục tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh trong giáo dục đào tạo hiện nay, kinh nghiệm giáo dục của bản thân giáo viên, thông qua đó đề ra biện pháp giảng dạy cách tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho  học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người có ích, thành đạt trong cuộc sống và cho xã hội.

         B. PHẦN NỘI DUNG 

1. Cơ sở lý luận về tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể- Chức năng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể      

 Một nền kinh tế và xã hội càng phát triển thì lại càng cần nhiều những bộ óc biết giải quyết vấn đề. Nhưng để đưa ra được một đường lối cải cách cụ thể và hiệu quả cho xã hội thì luận điểm trên cần được nhìn nhận lại và phát triển nối tiếp kỹ lưỡng hơn. Xã hội không chỉ cần những bộ óc giải quyết được vấn đề mà người khác đặt ra cho mình. Xã hội còn rất cần những người tự vạch ra các mục tiêu và tự đặt ra các vấn đề cần giải quyết. Cải thiện khả năng giải quyết vấn đề cho người đi học là điều cần hướng tới trong phương pháp giáo dục hiện tại. Để tạo ra một lớp người chủ giỏi trong tương lai, ngay từ bây giờ chúng ta cần chú trọng dạy cho học sinh lối tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể. Đây cũng là chất liệu thiết yếu giúp các em tự tìm thấy lòng say mê trong học tập và học tập suốt đời.       Tư duy độc lập là cách suy nghĩ của con người về các sự vật, sự việc, hiện tượng đã, đang và chưa xảy ra dựa trên những kiến thức tích lũy của bản thân mà không phụ thuộc vào các tác động của các yếu tố bên ngoài ( như quan điểm của người khác, hoàn cảnh, môi trường…)

       Tư duy phân tích là cách suy nghĩ, tư duy phân chia các sự vật, sự việc, hiện tượng cần xem xét, nghiên cứu thành các thành phần, các yếu tố tác động, yếu tố cấu thành, hay yếu tố ảnh hưởng đến sự vật, sự việc, hiện tượng đó nhằm biến sự vật, sự việc, hiện tượng phức tạp thành các thành phần nhỏ dễ nắm bắt hơn.

       Liên kết tổng thể là bước cuối cùng sau khi đã tiến hành tư duy độc lập, tư duy phân tích, là bước định dạng các ranh giới giữa các thành phần phân tích,các quan hệ logíc, quan hệ kết nối giữa các thành phần trong tư duy phân tích và sắp xếp các thành phần đó giúp tái tạo lại tổng thể ban đầu và thấy được bản chất của sự vật sự việc, hiện tượng cần nghiên cứu đó.

       Đối với người đi học, niềm hạnh phúc đến từ tiến trình gồm ba bước: khám phá kiến thức mới – làm chủ kiến thức – vận dụng để sáng tạo ra thành quả được người khác công nhận. Tư duy phân tích và liên kết tổng thể là chất liệu không thể thiếu cho người học xuyên suốt tiến trình ba bước này.

       2. Thực trạng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể của người học

Tiến trình học tập của người học gồm ba bước: khám phá kiến thức mới – làm chủ kiến thức – vận dụng để sáng tạo ra thành quả. Mục tiêu căn bản cho mọi người học là làm chủ được kiến thức mà mình tiếp thu. Khi chưa làm chủ được kiến thức thì người ta buộc phải hi vọng vào vận may để vận dụng thành công trong giải quyết các vấn đề. Hậu quả ở tầm vĩ mô là một nền kinh tế ỳ trệ bởi những lãng phí cơ hội và tài nguyên vào những khoản đầu tư mang tính đánh quả vào chứng khoán và bất động sản…. Ở tầm vi mô là những đời sống cá thể hời hợt, biểu hiện ở sự thiếu tính định hướng, thiếu say mê phấn đấu, và hệ quả tất nhiên là thiếu trách nhiệm. Đây là những hậu quả nhìn thấy được mà chúng ta đã và đang thấy khá nhiều trong xã hội hiện nay.Vậy “ Thế nào là làm chủ được kiến thức?” Khi khám phá một vấn đề mới mẻ, con người buộc phải dựa vào vốn kiến thức mình đã có. Nó bao gồm các khái niệm đã từng được định dạng và các logic kết nối quan hệ nhân-quả và chính-phụ giữa các tín hiệu này với nhau. Khi đối chiếu kho kiến thức cũ này với vấn đề mới mẻ trước mắt, nếu vấn đề thực sự phức tạp, người ta phải phân chia ra các thành phần nhỏ để dễ dàng nắm bắt hơn. Nhìn vào các thành phần này, người ta có thể hiểu ra những logic kết nối mới, hoặc định dạng được những khái niệm mới. Sau khi đã hiểu thấu đáo các thành phần thì cần định dạng các quan hệ logic kết nối chúng với nhau theo một sự sắp xếp giúp tái tạo lại được tổng thể ban đầu. Tuy không phải ai cũng có khả năng thực hiện tất cả các bước đi trên với một tinh thần duy lý tận cùng, nhưng nhờ vào những bước tư duy kể trên mà chúng ta biết được đâu là ranh giới giữa phần sự vật mình đã thông hiểu và đâu là phần còn chưa biết. Có khi chính những phần chưa biết này sẽ kích thích con người tiếp tục khám phá để đi xa hơn nữa. Nhưng ngược lại, nếu không trải qua các bước tư duy trên thì con người sẽ chìm đắm trong sự hỗn độn. Đối với người học, những lỗ hổng kiến thức chồng chất lên nhau tất yếu sẽ dẫn tới sự trì trệ, lạc hậu trong phát triển kinh tế và xã hội sau này. Nhưng không phải người đi học nào cũng có được ý thức và nghị lực để liên tục tự bù lấp vào các lỗ hổng kiến thức. Dù cho thầy cô giáo có thật sự tận tâm thì vẫn không thể tự mình bù đắp hết lỗ hổng kiến thức cho học sinh. Vậy nên, sẽ có hiệu quả lâu dài hơn nếu các thầy cô có thể truyền thụ cho học sinh ý thức, khả năng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể và niềm vui khi tự học.

3.Thực trạng giáo dục tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh trong giáo dục hiện nay và tại trường TC Kinh tế Kỹ thuật Bắc Thăng Long :

Hiện tượng phổ biến hiện nay trong việc giảng dạy các bộ môn khoa học là thầy cô giáo nêu ra lý thuyết, sau đó yêu cầu học sinh ghi nhớ và áp dụng lý thuyết để giải quyết các bài tập cụ thể. Một học sinh thường được coi là giỏi nếu giải quyết đủ bước, chính xác, và nhanh chóng bài tập mà thầy cô giáo đưa ra. Làm được như vậy thì cả thầy và trò cùng cho rằng đã làm chủ được kiến thức và dễ dàng tự thấy thỏa mãn. Tuy nhiên, nếu công việc giáo dục chỉ dừng lại ở đó thì sẽ là một sự vô tâm và lãng phí rất đáng tiếc. Bởi vì văn hóa khoa học không chỉ một tập hợp của các bài giải bài tập chưa kể đến tính ứng dụng thực tế của bài tập đó. Nó là một công trình xây dựng từ các tấm, miếng tri thức nhân loại tích lũy qua nhiều thế kỷ. Kết cấu của công trình ấy phản ánh được những quy luật tự nhiên con người tổng kết và chắt lọc từ thực tế. Càng nắm vững các quy luật thì càng áp dụng được vào nhiều tình huống khác nhau. Người Việt Nam thường có câu: học một biết mười chính là như vậy. Một người học sinh biết giải nhiều bài tập mà tự mình còn chưa thẩm thấu kiến thức thành các quy luật thì cũng giống như một công trường chứa nhiều vật liệu xây dựng chứ chưa hề có công trình xây dựng. Với cách giảng dạy phổ biến hiện nay, chúng ta gặt hái ra đa số là những người thợ giỏi giải bài tập với tư duy xơ cứng, những người học sinh với ngổn ngang vật liệu kiến thức mà có rất ít các công trình được hoàn thành từ vật liệu kiến thức đó . Họ chưa có được một văn hóa khoa học tương xứng với những tri thức tinh túy của nhân loại.

Trường TC Kinh tế Kỹ thuật Bắc Thăng Long – nơi tôi công tác giảng dạy việc giáo dục cho học sinh theo hướng phát huy tính tích cực đã được ban giám hiệu nhà trường quan tâm khuyến khích. Nhà trường với nhiệm vụ của một trường trung cấp chuyên nghiệp hướng nghiệp,  đào tạo nghề nghiệp cho học sinh đã có những bước đi mạnh mẽ trong công tác đào tạo theo nhu cầu của thị trường, liên kết  với các doanh nghiệp trong đào tạo, hướng nghiệp, có các chính sách khuyến khích giáo viên thường xuyên cập nhật kiến thức mới, kiến thức thực tế và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vào công tác giảng dạy. Tuy nhiên giáo dục tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh, mới chỉ dừng lại ở ý thức của một số giáo viên nhỏ lẻ chưa trở thành một nhiệm vụ công tác chính tồn tại song song với truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học sinh ở mọi giáo viên trong trường.  

4.     Một số phương pháp thực hiện giáo dục tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh:

Làm thế nào để học sinh có được khả năng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể ? Trước hết học sinh cần được truyền thụ tốt những lý thuyết, kiến thức căn bản cần thiết, sau đó mới là truyền thụ cho người học một văn hóa tư duy khoa học. Như vậy phương pháp giáo dục đầu tiên đó là người thầy phải làm chủ kiến thức chuyên môn, có nghiệp vụ sư phạm tốt để có thể truyền thụ được những kiến thức nắm bắt được cho người học một cách đầy đủ nhất, khoa học nhất, logic nhất. Truyền thụ cho người học một văn hóa khoa học bằng cách nào? Đứng trước một một nội dung lý thuyết cần truyền thụ, nhiệm vụ của những người thày không chỉ là giúp học sinh áp dụng vào các bài tập thực tiễn cụ thể. Họ còn phải giúp học sinh nhận ra mối liên hệ giữa kiến thức mà học sinh đang học với những lý thuyết đã từng được tiếp thu từ trước đó. Cũng sẽ rất hữu ích nếu như người thầy gợi tả các lý thuyết mà học sinh sắp được học, và hỏi xem các em hình dung lý thuyết đang học có liên quan thế nào tới các lý thuyết này. Chúng ta biết rằng không có một nội dung kiến thức lý thuyết nào có thể đứng tách ra khỏi các lý thuyết khác mà lại hàm chứa được đầy đủ sự sâu sắc của nó. Bởi vì lý thuyết này là nền tảng của lý thuyết kia. Hoặc là từ khoảng trống mà cái trước không lấp đầy đã tạo ra tiền đề để ra đời cái sau. Lưu ý rằng không cần phải đòi hỏi các em biết tường tận đường đi nước bước của các bài tập áp dụng thực tế cụ thể. Điều thiết yếu là giúp các em phát huy tối đa khả năng hình dung các vấn đề trừu tượng. Từ đó mà tự hình thành trong đầu mình một hệ thống kết nối các nội dung kiến thức mấu chốt với nhau. Đây mới thật là văn hóa khoa học mà các em cần tích lũy cho bản thân.

Nếu trong nội dung bậc giáo dục phổ thông ở bộ môn Toán học cho ta thấy mỗi một định lý thường là hệ quả của một định lý khác, vốn có thể lại là hệ quả của một định lý khác nữa. Khi dò liên tục tới cùng thì người đi học tìm thấy các tiên đề, hoặc các giả thiết mang tính gốc rễ. Tiên đề là quy luật chưa chứng minh được. Còn giả thiết là những giới hạn được áp đặt để khoanh vùng vấn đề. Tính chủ quan của các lý thuyết khoa học chính là ở đây. Nhưng nhờ có tính chủ quan này mà vấn đề được định dạng. Thực tế cuộc sống với chúng ta là tập hợp các vấn đề cần giải quyết và mỗi vấn đề được coi là bài toán nhỏ. Nhờ có các ranh giới chính xác mà ta biết vấn đề có phạm vi ảnh hưởng tới đâu. Bởi vậy, người thày nên giảng kỹ lưỡng về các giới hạn ở điểm khởi đầu như vậy, thay vì vội vã lao thẳng tới những ý đồ thực tiễn mà một lý thuyết có thể giải quyết. Muốn vậy thì phải lưu tâm cho các em nhận thức rõ đâu là điểm bắt đầu cho một vấn đề. Tức là chỉ rõ vai trò của từng giả thiết tạo thành vấn đề đó. Qua đó người đi học mới nắm được cách tự học căn bản. Khi đã có cái nhìn thực chất và bao quát, người học tự mình có thể nhận ra được tính chủ quan của từng nội dung các vấn đề của bài toán cuộc sống một cách tỉnh táo và thông suốt. Ngược lại, nếu các em hiểu theo một cách cào bằng rằng mọi vấn đề đều có ảnh hưởng trong một giới hạn, phạm vi cụ thể bó gọn trong một giả thiết của một bài tập thực hành nào đấy, từ đó mà xem thường giá trị thực tiễn của tri thức và đánh mất đi lòng nhiệt huyết trong khám phá tìm tòi, thì lại là một sự hiểu sai rất nguy hại và tạo ra tính tự ti, bị động trong việc thiết lập cuộc sống của bản thân.

          Trong công tác giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành kinh tế - một chuyên ngành có tính xã hội cao của trường. Các môn học đã được sắp xếp giảng dạy theo trình tự logic: từ môn cơ sở - cơ sở chuyên ngành- chuyên ngành. Các môn học cơ sở đặt nền tảng kiến thức cho các môn học sau là cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành. Khi giảng dạy những môn học thuộc bộ môn cơ sở như: kinh tế chính trị, kinh tế quốc tế, quản trị doanh nghiệp, thuế nhà nước….người thầy giáo tận tâm thường truyền thụ cho học sinh sâu sắc về nội dung kiến thức của môn học, phạm vi ảnh hưởng và tác động của những kiến thức kinh tế đó ngoài cuộc sống thực tế. Những sẽ tuyệt vời hơn nếu người thầy đó gợi mở cho học sinh những vấn đề đặt ra sau khi học môn học đó và hướng gợi mở suy nghĩ cho học sinh tới các vấn đề sẽ được giải quyết ở các môn học sau cơ sở chuyên ngành như: tài chính doanh nghiệp, lý thuyết hạch toán kế toán….hay ở các môn chuyên ngành như: kế tóan doanh nghiệp sản xuất, kế toán thực hành….. Học sinh sẽ hứng thú với kiến thức của môn học mình đã làm chủ và bị thu hút trước các vấn đề kiến thức còn chưa biết chưa giải quyết, học sinh sẽ có những tư duy phân tích tìm hiểu trước về các vấn đề còn chưa biết chưa được giải quyết. Để có được kết quả đó đòi hỏi người thầy khi giảng dạy các môn học trước ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn của môn học mà mình giảng dạy cần phải hiểu rõ vị trí kiến thức của môn học mình giảng dạy trong tổng thể các môn học của chuyên ngành, phải nắm được những môn học tiếp sau có nội dung cơ bản là gì. Phương pháp giáo dục thứ hai đó chính là người thầy cần xác định rõ vị trí kiến thức các môn học, bài học mình giảng dạy trong hệ thống kiến thức cần truyền thụ cho người học. Người thầy mong muốn giảng dạy cho học sinh khả năng tư duy phân tích và liên kết tổng thể thì trước hết bản thân các thầy cô cũng cần có cách tư duy phân tích và liên kết tổng thể. Nội dung này không chỉ bó gọn trong logic kiến thức của môn học mình giảng dạy mà còn ở trong mối quan hệ với các môn học khác, với nền kinh tế xã hội.

Điều cần tránh trong văn hóa khoa học là việc đi lạc vào trong những thủ thuật rườm rà, thấy cây mà không thấy rừng. Mặc dù cái nhìn vi mô cũng quan trọng không kém cái nhìn vĩ mô. Cái nhìn vi mô là sự hiểu biết về cấu trúc căn bản của từng sự vật. Điều này có được là thông qua những bài tập cụ thể. Nhờ các bài tập mà các em hiểu rõ hơn ý nghĩa các thành phần trong kiến thức lý thuyết đã được truyền thụ cũng như mối quan hệ gắn kết các thành phần với nhau. Như vậy việc nghiên cứu vi mô và vĩ mô đều có điểm chung. Đó là người học cần nhận ra mối quan hệ gắn kết các thành phần riêng rẽ trong mỗi một tổng thể. Các bài tập cụ thể vi mô vì vậy cần duy trì sự minh giản để giúp học sinh hình dung được bản chất lý thuyết của vấn đề. Những bài tập nâng cao, tổng hợp cũng cốt là để các em hiểu sâu sắc hơn về bản chất mà thôi. Càng hiểu sâu sắc về bản chất thì khi ứng dụng thực tế các em sẽ càng sắc sảo. Ngược lại, không nên khích lệ các em chú tâm vào những bài tập đòi hỏi trí tuệ tiểu xảo. Trong cảnh nước nhà nguy cấp cách đây khoảng bảy thế kỷ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã dạy rằng: "mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh". Chúng ta nên biết rèn luyện cho học trò của mình những phẩm chất hữu ích trong tương lai, đừng chỉ biết "làm xiếc trong ao tù".Vẻ đẹp chân thật của khoa học không phải là những xảo thuật tinh vi mà ở sự sáng sủa và tính hàm súc. Một văn hóa khoa học đúng nghĩa cho người học khả năng nhìn xa, bao quát, và sâu sắc vào nhiều khía cạnh cuộc sống. Thói quen phân tích ra các thành phần và xâu chuỗi lại tổng thể sẽ giúp người học sinh tự nghiên cứu hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực chứ không giới hạn ở những bộ môn khoa học. Các bộ môn kinh tế xã hội thường xuyên đòi hỏi khả năng liên kết các dữ kiện biến động để nhận ra những quy luật kinh tế, xã hội có tính bất biến không được phó thác, buông xuôi vào trí tưởng tượng của mình. Chúng ta thấy rằng để nâng tầm vóc văn hóa cho thế hệ tương lai, nhất thiết phải dạy cho các em thói quen tư duy phân tích và liên kết tổng thể.

Tư duy phân tích và liên kết tổng thể có thể giúp các bài học trở nên sinh động, giàu ý nghĩa chứ không hề tẻ nhạt khô khan. Đối với các bộ môn giảng dạy trong trường trung học chuyên nghiệp ngoài việc cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần thiết của một nghề như kế tóan, điện tử, viễn thông, du lịch… người giáo viên cần đưa ra những bài tập có tính thực tế cao, khi học sinh nắm được những kiến thức cơ bản và giải được những bài tập có yếu tố giả thiết, rồi cao hơn đến những bài tập có yếu tố thực tế thì người thầy hướng cho người học nhìn rõ được bản chất của vấn đề cần giải quyết ở trường hợp cụ thể này là gì và cách nhìn ra những tình huống có tính thực tế hơn, mở rộng hơn phạm vi tác động của vấn đề. Người dạy có thể chia ra các bậc thang hợp lý kết nối các tầng kiến thức lại với nhau. Bậc thang lớn quá thì một học sinh năng lực trung bình không thể bước nổi. Bậc thang ngắn quá thì học sinh khá giỏi thấy nhàm chán, lười động não. Vậy nên, nhiệm vụ của một người thầy giỏi là giúp học sinh tự mình khám phá để đi từ một tầng kiến thức thấp tới một tầng kiến thức cao hơn. Bản thân người thày mỗi khi khám phá ra được một cầu nối mới thì đã bắt đầu có thể cảm thấy được niềm hạnh phúc của việc sáng tạo. Còn khi mà cả thày và trò cùng bỏ công sức, cùng gặt hái thành quả, thì học tập và giảng dạy thực sự là con đường sáng tạo với niềm hạnh phúc trọn vẹn. Chúng ta cần sớm thay đổi cách hiểu nhầm lẫn tai hại, coi học sinh giỏi là những người cần cù chăm chỉ, học thuộc lòng lý thuyết và giải bài tập nhanh chóng thuần thục như máy. Người học giỏi đúng ra phải là người làm chủ được tri thức, biết định dạng, phân loại, để từ đó sáng tạo và nhận thức ra tri thức mới hữu ích cho mình. Việc giải bài tập chỉ mới là bước căn bản để học sinh hiểu bài chứ chưa hẳn đã tạo ra thử thách khả năng sáng tạo. Còn khi người học biết kết nối thông tin để hình thành nhận thức mới mẻ cho bản thân mình, thì đó chính là sự sáng tạo. Cũng chỉ thông qua đó thông tin mới thực sự sống động và thôi thúc lòng ham hiểu biết. Khi nghiên cứu tâm lý học sinh để đưa ra các phương pháp giáo dục, giảng dạy ngày càng thiết thực bổ ích và thu hút chúng ta thường tự hỏi: Vì sao học sinh thường thích chơi điện tử, đọc truyện tranh hơn học tập? Vì những công cụ giải trí đó tạo ra những mạch khám phá liên tục. Chương này nối tiếp, kích thích cảm xúc cho chương kia. Chứ nếu các chương có nội dung na ná như nhau, hoặc các mạch khám phá bị đứt gãy rời rạc, thì chắc chắn học sinh đã không say mê đến vậy. Mặt khác, việc chơi game cho phép học sinh hóa thân vào môi trường ảo, nơi bản thân được phát huy khả năng sáng tạo. Đó cũng là nơi trẻ cảm thấy được kết nối cọ xát với môi trường và vượt qua các chướng ngại ảo để cảm thấy giá trị của cái tôi được khẳng định. Tất cả những nhu cầu tâm lý ấy hoàn toàn chính đáng. Nếu việc học hành không giúp học sinh thỏa mãn những nhu cầu căn bản này thì các em tất yếu sẽ tìm đến lối thoát khác. Có những lối thoát được cho là lãng phí tuổi trẻ, thậm chí cho là suy đồi hay nguy hiểm cho chính bản thân các em. Nhưng lỗi chính là của chúng ta khi đã thất bại trong việc giáo dục và định huớng từ sớm.

Công việc học tập hoàn toàn có thể trở nên thu hút nếu các nhu cầu tâm lý của người học được thỏa mãn. Các môn học từ nội dung kiến thức đến bài tập vận dụng cần kích thích được trí tưởng tượng của các em khi tìm kiếm sự kết nối giữa các chương với nhau và với những vấn đề thực tế cuộc sống hàng ngày các em phải đối mặt. Các bước tư duy đặt ra không nên quá dễ nhưng cũng không cần phải quá khó càng gần gũi và dễ nhận thấy kết quả thì càng tốt. Đặc biệt là khi các em tự mình hoàn thành được trọn vẹn một quá trình tìm tòi nghiêm túc. Đó có thể coi là bước tập dượt để tạo thành một thói quen vô cùng quan trọng cho tương lai. Và điều quan trọng hơn nữa là các em sẽ tìm thấy được niềm hạnh phúc trong công việc. Khi tự mình phân tích và kết nối thông tin thì người học làm chủ được môi trường của mình. Việc phân tích và kết nối thông tin thành công tạo ra ấn tượng khám phá mới mẻ, đồng thời cho người học cảm giác được lao động, vượt qua chướng ngại để đem về thành quả sáng tạo. Để khuyến khích người học có sự say mê liên tục, không có cơ hội cho bất kỳ lỗ hổng kiến thức nào được hình thành thì công tác giáo dục tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể phải được tiến hành liên tục trên phạm vi tất cả các môn học, bài học, mọi khoảng thời gian lớn nhất có thể khi người thầy tiếp xúc với người học và trở thành một nhiệm vụ, một hoạt động ý nghĩa với mọi thầy cô giáo. Trong công tác giảng dạy cho học sinh thuộc chuyên ngành kinh tế học sinh lựa chọn học chuyên ngành này hầu kết đều mong ước khẳng định được bản thân về khả năng làm chủ kinh tế tài chính phát triển kinh tế tài chính. Tuy nhiên thực tế là trong hầu hết các em tư duy về kinh tế tài chính còn không chắc chắn, rõ ràng. Nếu mục tiêu chính của nhà trường là cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của một ngành nghề nào đó thì chưa đủ. Liệu kiến thức đó có thu hút được sự quan tâm thực sự của các em khi cơ hội  có thể áp dụng những kiến thức, kỹ năng đó là không dễ dàng để có. Để khắc phục tình trạng đó tại trường TC Bắc Thăng Long cũng như một số các trường trung cấp, cao đẳng khác đã tiến hành tìm kiếm các con đường  để học sinh có thể sớm tiếp súc với môi trường nghề nghiệp thông qua các doanh nghiệp, cơ hội việc làm. Một vấn đề nảy sinh đó là sự thích nghi của học sinh trong môi trường mới không tốt. Tại trường TC Kinh tế Kỹ thuật Bắc Thăng Long một giải pháp rất tích cực được đưa ra và được triển khai đó là đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng làm chủ trong giao tiếp xã hội cho học sinh. Giải pháp này đã bước đầu cho thấy hiệu quả. Học sinh đã tự tin hơn và bắt nhịp với công việc sau khi ra trường nhanh nhạy hơn trước. Tuy vậy khi đứng trước những câu hỏi có tính chất mở rộng đòi hỏi sự nhạy bén và sâu sắc trong tư duy thì kết quả thu được chưa khả quan. Hầu hết học sinh đã có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ sự tự tin nhất định khi thể hiện bản thân nhưng trước các tình huống đa dạng về kinh tế xã hội nhiều em lúng túng không biết cách xử lý và có cách sử lý tiêu cực. Là một giáo viên của chuyên ngành kế toán dù làm công tác chủ nhiệm hay giảng dạy tôi thường được nghe những câu hỏi xin tư vấn của học sinh về chuyên môn trước và sau khi ra trường cũng như các câu hỏi về cách xử lý các tình huống khó khăn thực tế mà các em gặp phải. Không phải câu hỏi nào tôi cũng có câu trả lời chính xác, và ổn thỏa ngay lập tức nhưng tôi có thể thấy rằng phần lớn tình huống các em gặp phải không hiếm gặp trong cuộc sống hàng ngày. Tư tưởng sống phải hưởng thụ, mọi đánh giá của cuộc sống xoay quanh giá trị đồng tiền tác động nhanh và rất mạnh tới các em. Những tư tưởng đó làm các em không phân biệt được ranh giới giữa đúng và sai, các gía trị đạo đức bị xem nhẹ, mối quan hệ giữa cá nhân với nhau và với gia đình xã hội trở nên lỏng lẻo. Cá nhân tôi đã thay đổi phương pháp giảng dạy từ đó. Tôi đã không ngừng lồng ghép các câu hỏi, ví dụ liên hệ thực tế để kích thích khả năng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể cho học sinh bất kỳ khi nào có cơ hội. Cấp tối giản nhất trong phương pháp giáo dục học sinh tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể chỉ gói gọn trong hai câu hỏi với từng bài học. Thứ nhất, bài học hôm nay liên quan ra sao tới các bài học đã qua?. Thứ hai, bài học hôm nay có thể tạo ra nền tảng gì và vẫn còn lại khoảng trống nào?.Khi giảng dạy môn Tài chính doanh nghiệp ở chương Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận lúc kết thúc bài giảng của mình tôi thường nhấn với học sinh ý nghĩa của bài giảng đó là: để hiểu được lợi nhuận của doanh nghiệp, tính được các khoản lợi nhuận hợp pháp của doanh nghiệp các em cần nắm vững kiến thức đã học ở chương Doanh thu tiêu thụ hàng hóa sản phẩm để biết thời điểm, điều kiện và nội dung của các khoản doanh thu, công thức tính toán các khoản doanh thu nằm trong công thức tính lợi nhuận của doanh nghiệp; kiến thức của chương Chi phí sản xuất kinh doanh để nắm được khoản chi phí nào là hợp lệ, hợp pháp được sử dụng để tính toán trong công thức tính lợi nhuận hợp pháp của doanh nghiệp; kiến thức của bộ môn Thuế nhà nước để áp dụng tính doanh thu thuần, thuế thu nhập doanh nghiệp. Bài học này cung cấp cho các em kiến thức thế nào là khoản thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp các công thức tính lợi nhuận và phân chia lợi nhuận tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bài học này cũng chưa cung cấp cho các em những kế toán tương lai các chứng từ sổ sách thủ tục ghi nhận các khoản thu nhập, lợi nhuận của doanh nghiệp, các ghi chép, xử lý số liệu, thông tin về thu nhập, lợi nhuận tại các doanh nghiệp và các kiến thức còn thiếu đó các em sẽ được học trong các môn học chuyên ngành như Kế toán doanh nghiệp sản xuất, Kế toán thực hành. Trong hệ thống bài tập vận dụng chương lợi nhuận và phân phối lợi nhuận có rất nhiều bài tập cho học sinh ở dạng ra quyết định sản xuất hay không sản xuất. Các giáo viên thường dạy cho học sinh biết cách làm được bài tập dạng này: chấp nhận sản xuất khi có lợi cho doanh nghiệp – đó lâ khi sản xuất có lợi nhuận hoặc bị lỗ nhưng số lỗ nhỏ hơn số lỗ phát sinh khi lựa chọn không sản xuất. Trước khi học chương này câu hỏi : một doanh nghiệp quyết định sản xuất hay không sản xuất theo các em căn cứ vào các yếu tố nào? Tại các lớp tôi giảng dạy KT05G, KT05ST, KT 06A các câu trả lời thu được như sau:

Nội dung trả lời Tỷ lệ học sinh trả lời

Đồng ý sản xuất khi có lợi nhuận

78%

Đồng ý sản xuất khi có doanh thu cao

18%

Không có ý kiến hoặc không giống ý kiến trên

4%

Nhìn vào kết quả trên chúng ta thấy rõ tư duy thông thường của các em học sinh đó là sản xuất kinh doanh khi có lợi nhuận. Các quyết định kinh tế được đưa ra thiếu thận trọng và chưa được phân tích đầy đủ chỉ dựa trên một yếu tố duy nhất đó là lợi nhuận chưa kể một số lượng không nhỏ các em nhầm lẫn kiến thức về doanh thu và lợi nhuận( 18%).  Và sự thờ ơ trong học tập vẫn tồn tại ở một số học sinh (4%).

Để đạt được tỷ lệ 100% học sinh hiểu bài và vận dụng làm được bài tập ra quyết định là một kết quả không dễ đạt được với mỗi giáo viên nhưng sẽ tuyệt vời hơn khi giáo viên định hướng cho học sinh một cách suy nghĩ sâu rộng hơn ở trong mọi công việc khác trong cuộc sống. Thông thường khi dạy cho học sinh làm các bài tập dạng này giáo viên thường phân tích theo xu hướng quyết định sản xuất khi doanh nghiệp có lợi. Cách giải thích, phân tích này không sai và rất đúng tâm lý chung của các chủ doanh nghiệp ngoài thực tế khi sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên với cách suy nghĩ, tư duy tự phát của học sinh vô tình giáo viên góp phần hình thành hoặc cổ vũ cho lối sống thực dụng, hưởng thụ cho học sinh, một lối sống mà mọi giá trị, mọi vẻ đẹp được đánh giá xoay quanh giá trị đồng tiền, mọi quyết định hoạt động hay không hoạt động căn cứ vào thu nhập nhận được. Mọi bài học về đạo đức lối sống không gắn khéo léo vào các bài học chuyên môn, vào ví dụ thực tế bỗng trở nên sáo rỗng, giáo điều với học sinh. Sau khi học song kiến thức về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận với câu hỏi trên cho bài tập ra quyết định sản xuất hay không sản xuất kết quả thu được như sau:

Nội dung trả lời Tỷ lệ học sinh trả lời

Đồng ý sản xuất khi có lợi nhuận hoặc bị lỗ nhỏ hơn số lỗ phát sinh khi không sản xuất trong điều kiện môi trường hoạt động doanh nghiệp là bình thường.

76%

Đồng ý sản xuất khi có lợi nhuận hoặc bị lỗ nhỏ hơn số lỗ phát sinh khi không sản xuất

21%

Đồng ý sản xuất khi có lợi nhuận

3%

Kết quả này cho thấy công tác truyền thụ kiến thức đã có hiệu quả các quyết định kinh tế được đưa ra thận trọng hơn, quyết định sản xuất đã được xem xét, nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đó là cái lợi, bất lợi khi sản xuất trong quan hệ với cái lợi, bất lợi khi không tiến hành sản xuất. Tuy vẫn còn 3% học sinh đưa ra nhận định không đúng nhưng cũng cho thấy các em đã bị thu hút vào bài học không bàng quan, thờ ơ đứng ngoài bài học. Như vậy bước đầu các em đã tích cực trong tư duy độc lập ra khỏi lối suy nghĩ phổ biến thông thường khi có thêm kiến thức được cung cấp đầy đủ, hệ thống; có tư duy phân tích tính đến các yếu tố tác động tới tình huống cả ở hai mặt tích cực và tiêu cực; có sự liên kết các yếu tố đó trong tổng thể tình huống ban đầu đó là sản xuất hay không sản xuất.

 Cũng với nội dung bài giảng về lợi nhuận đó tôi cũng dạy các em về ý nghĩa rộng hơn của nó đó là khi xem xét một sự việc, sự vật, hiện tượng cần phải thận trọng, nhìn nhận vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau. Việc nhìn nhận vấn đề lợi và bất lợi khi ra quyết định không chỉ vận dụng trong các quyết định kinh tế lớn lao như sản xuất kinh doanh hay không mà còn ở rất nhiều các quyết định khác trong cuộc sống như: có nên mua một vật dụng hay không, có nên tham gia một hoạt động văn nghệ tại trường hay không, có nên đóng quỹ lớp hay không , có nên tham gia xây dựng nội quy học tập của lớp hay không…..Dù là hoạt động nhỏ nhất thì ngoài yếu tố lợi và bất lợi còn cần xem xét đến thời gian tồn tại của cái lợi và bất lợi đó. Để cho học sinh thấy rõ hơn ý nghĩa của việc tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể tôi đã thay đổi ví dụ minh họa cho học sinh nhằm phân biệt cho các em đâu là quan điểm đúng và đâu là quan điểm sai khi đánh giá một sự việc, sự kiện kinh tế, hướng cho các em học sinh phải biết phân tích đi vào cơ sở, cốt lõi vấn đề, phân tích vấn đề trong nhiêu mối quan hệ với các yếu tố khác và nhiều khía cạnh, nhiều góc độ thời gian (trước mắt và tương lai), sau đó mới tổng kết lại và đưa ra kết luận. Ví dụ mà tôi đưa ra thường rất đơn giản như: Giả định các em muốn kinh doanh nhưng hiện nay số vốn quá nhỏ chỉ đủ mua những dụng cụ đơn giản rẻ tiền sau một thời gian kháo sát thị trường tại địa phương thấy việc mở quán bán nước là khả thi. Mọi đồng vốn hiện có chỉ đủ sử dụng để thuê cửa hàng, mua một số dụng cụ phục vụ bán hàng như bàn ghế, khay, cốc, ấm…muốn mua các nguyên liệu, hàng hóa phục vụ kinh doanh phải sử dụng nguồn vốn khác. Có một cơ hội vay vốn đơn giản không cần bất kỳ thủ tục pháp lý nào, có nhu cầu là cho vay đó là vay của những người kinh doanh tiền ( gọi thông thường là chủ hụi), cho vay cầm đồ…hình thức cho vay rất đơn giản: buổi sáng cho vay 20.000đồng đến tối thu 24.000đồng. Số vốn lưu động là 20.000đồng đủ để kinh doanh hàng quà vặt, hàng nước 1ngày. Số tiền thu được từ bán hàng nước hàng ngày thu được tương ứng với số vốn lưu động 20.000đồng là 45.000đồng. Vậy có nên vay tiền qua kênh này để kinh doanh bán nước hay không?

Với ví dụ khá gần gũi này các kết quả thu được ban đầu như sau:

TT Câu trả lời Tỷ lệ h/s trả lời Lý do trả lời

1

Đồng ý vay kênh này

13%

Vay kênh này kinh doanh có lợi 25.000đ/ngày

2

Không đồng ý vay kênh này

87%

- Không muốn liên quan tới những người cho vay nặng lãi, chưa rõ lợi nhuận có thực sự là 25.000đ/ngày hay không vì chi phí chưa rõ ràng

Qua kết quả này cho thấy học sinh đánh giá hoạt động kinh tế thông qua cái lợi trước mắt vẫn còn rất cao 13%, lượng học sinh có suy nghĩ sâu sắc trước vấn đề đã tăng hơn trước 87%. Trước bài tập tình huống nhỏ này tôi luôn có đáp án cho các em là : Không lựa chọn kênh này vì:

*Cái lợi vay kênh này: Không cần thủ tục hành chính tạo sự thoải mái cho những người ngại sự va chạm, ngại sự phiền phức trong thủ tục hành chính. Thời gian tồn tại của cái lợi này không lâu vì sự phiền phức sẽ đến sớm nếu người vay không thanh toán đúng đủ theo thỏa thuận.

 *Cái bất lợi khi vay kênh này:

Không tham gia làm các thủ tục hành chính vay tiền theo các kênh hợp pháp khác người vay tự đánh mất cơ hội được tìm hiểu về công tác quản lý tốt của những đơn vị kinh doanh hiệu quả.

‚Khi vay kênh này với dữ kiện đã cho phần chênh lệch 25.000đ/ngày không phải là lợi nhuận vì: chi phí ở đây được nói tới chỉ là chi phí biến đổi còn các khoản chi phí khác như: tiền thuê địa điểm, chi phí phân bổ sử dụng công cụ, đồ dùng, chi tiền công cho người bán hàng….và với 20.000đ vay buổi sáng trả 24.000đ vào buổi tối lãi suất cho vay ở đây là rất cao: 20%/ngày , nếu chỉ tính lãi suất đơn thì lãi suất một tháng đã là 600%/ tháng. Dù lợi nhuận thu được có là bao nhiêu chăng nữa thì con số 600%/ tháng là khó có thể đạt được. Kênh vay này không hiệu quả.

ƒ Vay thông qua kênh này khi không trả được gốc và lãi vay đúng hạn và đầy đủ thì hậu quả là khôn lường vì đây là kênh cho vay không hợp pháp, người đi vay không được pháp luật bảo vệ, và sự phiền phức trong đời sống người vay sẽ xảy ra như cãi vã, đánh nhau…vv.

Chúng ta cần nghiên cứu tìm nguồn vay khác ít rủi ro và chi phí thấp hơn. Ngoài thực tế không ít trường hợp đã lựa chọn kênh vay này vì nhìn thấy cái lợi trước mắt với phần chênh lệch không chính xác, các thủ tục vay đơn giản để rồi sau đó làm không đủ trả nợ, các cửa hàng nhỏ thường phải đóng cửa một số trường hợp xảy ra cãi lộn, đánh nhau. Sau bài tập này cô đặt ra một tình huống khác cho các em suy nghĩ trả lời: Có nên đi vay tiền để tổ chức sinh nhật thật to hay không? Nếu đi vay thì chấp nhận vay bao nhiêu tiền? Lý do chấp nhận vay? Hoặc một tình huống khác là Có nên cho bạn vay tiền để trả nợ vay mua sắm hay không với lời hứa trả tiền lại khi nhận được tiền học phí cha mẹ cung cấp? Bài học ở đây khá gần gũi và hình thành cho các em phản xạ trước các vấn đề dù là nhỏ nhất cũng cần cẩn trọng, suy xét kỹ lưỡng giữa cái lợi trước mắt với cái lợi lâu dài, chi phí cơ hội cho từng quyết định. Bài học này các em nên được vận dụng không chỉ ở trong kinh doanh mà khi làm những công việc hàng ngày như thuê nhà, mua sắm, tiêu dùng, lập kế hoạch… Trong cuộc sống hiện đại luôn hối hả gấp gáp hiện nay để có thể có được khả năng tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể ngoài việc có cuộc sống lành mạnh một ngày cần có những khoảng lặng cần thiết cho sự phát triển tự nhiên của trí tuệ. Vì vậy thì khối lượng học tập cần được lược giảm, chắt lọc, để chỉ còn lại những tinh chất thực sự cần thiết.

Nếu thày cô chỉ đặt ra những câu hỏi mang tính chất phân tích và liên kết ở trên lớp thì chỉ mới ưu tiên tác động tới các học sinh khá giỏi. Để đạt được hiệu quả toàn diện thì cần đưa những câu hỏi này vào các bài kiểm tra. Đây là khả năng trong tầm tay của mọi thầy cô có năng lực sư phạm khá. Hiện nay đa số các bài kiểm tra học sinh thường mới chỉ giới hạn ở việc kiểm tra khả năng học thuộc lý thuyết và thực hành qua giải bài tập. Điều này giới hạn sức sáng tạo trong tự học của các em rất nhiều. Đa số học sinh nghĩ rằng mình giải nhanh chóng bài tập và học thuộc lý thuyết, vậy là quá đủ rồi. Phải tới khi tốt nghiệp ra trường các em mới vấp váp và thấy rằng thực tế đòi hỏi hơn thế rất nhiều. Cần phải liên tục tổng hợp, phân tích, và đánh giá thông tin. Và nhất là luôn đặt ra được câu hỏi sáng suốt: tiếp theo tôi cần nắm thông tin gì, thực tế cần tôi giải quyết vấn đề nào? Qua đó các em mới thấy rằng việc tiếp thu học vấn giống như cái cầu thang đi lên nương tựa vững vàng vào thực tiễn. Lúc nào cũng có bước tiếp theo hữu ích cho hành trình thực tế của mình. Giá như có cơ hội nhận diện ra chiếc cầu thang này từ sớm để có thể tự học, tự sáng tạo, thì khi tốt nghiệp người học viên đã có thể tự buớc đi thật vững vàng.

                        C. KẾT LUẬN

Một người không biết tự học, hay một người làm việc với khả năng trung bình giống nhau ở chỗ khi làm việc này thì không thể quán chiếu, tìm ra mối liên hệ với việc khác. Bởi vậy học tập và làm việc giống như cày bừa trên những mảnh ruộng cằn cỗi. Từng công đoạn rời rạc cho nên vừa tẻ nhạt vừa vất vả. Người biết tự học hay một người làm việc giỏi thì không như vậy. Niềm đam mê là điểm tương đồng giữa họ. Vì đam mê nên không xa rời sự vật mà mình quan tâm. Vì không xa rời nên ngộ ra được các sợi dây liên kết sự vật với nhau. Nếu chỉ xem xét một vấn đề riêng lẻ thì không gian liên tưởng rất hẹp và khô khan. Nhưng nếu bắt đầu xem xét hai hoặc ba vấn đề và tìm sự liên kết giữa chúng với nhau, thì trường liên tưởng được mở ra rộng lớn và sinh động. Trong mỗi sự vật ta thấy mối liên quan tới nhiều sự vật. Trong nhiều sự vật ta vẫn soi chiếu thấy một sự vật. Qua đó, mỗi lần được làm việc ta lại tiếp tục phát hiện ra những khám phá kỳ thú mới. Khám phá được nên càng tăng hiệu quả và lại càng thêm gắn bó với công việc. Tiến trình đó quả là đáng thèm muốn cho tất cả mọi người. Nhưng mấu chốt của nó chỉ tóm gọn giản dị trong ý thức phân tích và liên kết tổng thể. Đó là ngăn cách rất mỏng manh giữa một người thợ mang đầu óc lệ thuộc hoàn cảnh với một người làm chủ giỏi. Ngăn cách đó ai cũng có thể vượt qua được nếu có ý thức vượt qua và có sự cố gắng tập dượt thành thói quen.  

Ngày nay, không hiếm thấy những người sinh viên ra trường thiếu khả năng viết một lá đơn mạch lạc, không thiếu bước, không lặp ý. Đối với một người tốt nghiệp đại học thì kỹ năng phân tích và liên kết tổng thể một sự vật như vậy còn quá hạn chế. Trong khi sự phát triển đất nước đang đòi hỏi đầu óc điều hành tổng quan ở mọi lĩnh vực, mọi quy mô. Để sao cho nhìn trên diện rộng các nguồn tài nguyên của chúng ta không bị lãng phí, các tiến trình phát triển không dẫm chân, mâu thuẫn lẫn nhau. Tình trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn là một ví dụ sinh động cho sự lãng phí thời gian, sức khỏe, và trí tuệ con người. Những cảnh đám đông trôi thụ động theo quán tính đó là sự ngầm cảnh báo cho một tình trạng phổ cập về sự lãng phí tài nguyên và cơ hội. Chúng ta trì trệ vì không biết đặt ra và giải quyết câu hỏi: đâu là bước đi tiếp theo để tối ưu cho một tương quan giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài? Trong các tổ chức, môi trường thông tin mập mờ dẫn tới trách nhiệm và quyền lợi của cá nhân không được phân bổ cụ thể, chính xác, và càng khó bề đánh giá, kiểm soát. Đó tất yếu cũng là môi trường lý tưởng cho tệ tham nhũng và quan liêu.

Ngay cả tiến trình cải cách giáo dục cũng đang ở trong dòng trì trệ chung. Hiệu quả thực tiễn của công tác cải cách giáo dục còn chưa rõ ràng. Phải chăng vẫn còn phổ biến lối tư duy tai hại, rằng người học giỏi thì phải chăm chỉ học thuộc lòng và biết giải bài tập với tốc độ thật nhanh? Nếu quả như vậy thì chưa thể thấy chất lượng giáo dục được cải thiện đáng kể. Vì vậy, hi vọng rằng các thầy cô giáo có thể sớm giúp các em phát huy tư duy độc lập, tư duy phân tích và liên kết tổng thể. Phương pháp tiến hành rất giản dị. Cấp tối giản nhất trong phương pháp giúp học sinh phát huy tư duy phân tích và liên kết tổng thể chỉ gói gọn trong hai câu hỏi với từng bài học. Thứ nhất, bài học hôm nay liên quan ra sao tới các bài học đã qua. Thứ hai, bài học hôm nay có thể tạo ra nền tảng gì và vẫn còn lại khoảng trống nào. Nếu các dữ kiện cơ sở của tình huống thay đổi thì kết luận của các quyết định sẽ bị thay đổi như thế nào. Những câu hỏi đơn giản như vậy nằm trong một bước đi vô cùng căn bản trong giáo dục mà có lẽ một số thày cô đã chuyên tâm tiến hành từ lâu. Nếu có thể phổ cập rộng ra thì hiệu quả tức thời hẳn sẽ không nhỏ, và lợi ích lâu dài càng không nhỏ chút nào. 

Ngày 10 tháng 5 năm 2009

Người viết   

Lê Hải Hà 


Nhắn tin cho tác giả
Trần Thị Kim Dung @ 08:04 03/12/2009
Số lượt xem: 169
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến