Chào mừng quý vị đến với .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

GIẢI PHÁP PHÒNG HỌC MULTIMEDIA WI-FI

GIẢI PHÁP PHÒNG HỌC MULTIMEDIA WI-FI

 

I. Mục tiêu đề tài

Từ năm 2008, năm của công nghê thông tin và ứng dụng của công nghệ thông tin vào trong môi trường giảng dạy. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin như vậy sẽ là việc cần thiết cho các giải pháp giảng dạy trong môi trường giáo dục của ViệtNamsắp tới.

Do đó, đề tài “GIẢI PHÁP PHÒNG HỌC MULTIMEDIA WI-FI”do tôi thực hiện là một giải pháp rất phù hợp trong giai đoạn ứng dụng rộng rãi Giải Pháp Công Nghệ Thông Tin vào giáo dục. Giải pháp ứng dụng hệ thống không dây mang lại hiệu quả cao, tính năng động và tính hiện đại trong giáo dục.

II. Nội dung đề tài

1. Thực tế triển khai

Trong những năm qua, nghành công nghệ thông tin đã có những bước phát triển khá mạnh, đặc biệt ứng dụng công nghệ thông tin trong nghành giáo dục. Do đó, việc sáng tạo và ứng dụng các giải pháp vào trong giảng dạy hiện nay là phổ biến rộng khắp.

Chẳng hạn, những giải pháp giảng dạy ngày nay hầu như dựa trên hệ thống phần cứng là phổ biến, ví dụ: hệ thống phòng LAB của trường THPT Hoàng Văn Thụ, hệ thống LAB của trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng…Bên cạnh đó, các giải pháp giảng dạy các môn học có ứng dụng MULTIMEDIA là các giải pháp của việc ứng dụng phần mềm, chẳng hạn như: Bộ phần mềm Netop School, E-learning Class của Intel….

Thực tế, trên toàn quốc hiện giờ đã có nhiều đơn vị trường học tham gia giảng dạy bằng các giải pháp như trên. Tuy nhiên, hiện nay các phòng LAB chủ yếu là dựa trên cơ sở là phần cứng, vì vậy khả năng tối ưu là không cao, không đơn giản được cơ sở hạ tầng… Bên cạnh đó, giải pháp ứng dụng phần mềm cũng chưa thoả mãn nhu cầu giảng dạy của giáo viên và học sinh hiện nay vì tính năng truyền hình ảnh chưa chất lượng như phần mềmNetopSchool….

Từ thực tế như trên, chúng ta có thể phối hợp với những công ty như Intel, Vdc, 3C… dựa vào phương pháp giảng dạy mới có công cụ phát triển và mang lại tính tiện dụng, dễ dùng và phương thức hiện đại. Đó là bộ đề tài “GIẢI PHÁP PHÒNG HỌC MULTIMEDIA WI-FI” dựa trên phần mềm E-learning Class dựa trên công nghệ không dây.

2. Giới thiệu chung về phần mềm E-Learning class

a. Phần mềm E-learning Class

 

 

E-learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay. Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau. Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của E-learning. Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này.

1. Khái niệm E-learning

E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning. Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin.

Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…

Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous). Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra. Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.

2. Một số hình thức E-learning

Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:

- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin.

- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training). Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training.

- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web. Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web. Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail... thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình.

- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên...

- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm. Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web.

3. Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới

E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ. ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn.

 

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004. E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force...

Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục.

Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng E-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.

Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại. Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản,Hàn Quốc,Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,...

Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp... và dùng để đào tạo nhân viên.

4. Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam

Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở ViệtNamkhông nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở ViệtNamđã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.

Các trường đại học ở ViệtNamcũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning. Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP. HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông,... Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở ViệtNam. Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở ViệtNamđã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo. Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở ViệtNam.

Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông...

Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở ViệtNam. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở ViệtNammới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước.

b. Một số mô hình ứng dụng bộ phần mềm này vào trong thực tế:

 

 

H1: Trường cao đẳng cộng đồng Cà Mau

 

 

 

 

H2: Đào tạo kiến thức qua Wifi

 

 

 

H3: Thực hành với Wifi

 

c. Ưu và khuyết điểm của giải pháp

1. Ưu điểm

- Dễ dang triển khai.

- Cơ sở hạ tầng không phức tạp.

- Tính năng động cao.

- Tính tự giác của học sinh.

2. Khuyết điểm

- Cần thời gian đào tạo

III. Bài học rút ra từ thực tế

Giải pháp Hardware + Software tương thích = giải pháp tốt.

Giải pháp Hardware + Software tương thích + giáo án tương thích = giải pháp tốt.

Tôi nhận ra rằng nếu dùng hệ máy tính ( như Computer Multimedia Productions Corporation (CMPC)) trên nền truyền Wifi và phần mềm tương thích (Teacher Control – elearning của Inter) sẽ mang lại hiệu quả caocho giải pháp phòng học MULTIMEDIA, thích hợp cho việc giảng dạy theo cấu trúc nhóm. Tuy nhiên, nếu hệ MULTIMEDIA này có thêm giáo án điện tử do giáo viên đứng lớp tụ soạn sẽ mang lại hiệu quả ứng dụng rất cao.

IV. Một số khuyến nghị

  1. 1.     Việc trang bị máy tính hàng loạt mà không đồng bộ thì se không phát huy tối đa hiệu quả mà công nghệ máy tính đem lại. Ví dụ như có 25 máy tính Mobile PC được viện trợ, chỉ cần thêm 1 Wiless Acess Point (WAP) trị giá không quá 1 triệu đồng, điều chuyển thêm 1 máy PC hay Laptop làm máy giáo viên thì đã có 1 giải pháp phaòng đa phương tiện Wifi. Tuy nhiên như vậy vẫn chưa đủ, cần phải chọn phần mềm tương thích. Đối với trường hợp các máy Mobile PC do Intel tài chợ đã có phần mềm E-Learming và Win dows XP trên  máy, chỏ cần thêm phần mềm Teacher Control trên máy giáo viên là thật sự đồng bộ.
  2. 2.     Sự tham gia tích cực của giáo viên (soạn giáo án điện tử, học cách sử dụng phần mềm…) sẽ nâng cao chất lượng hệ thống MULTIMEDIA.

Nhắn tin cho tác giả
Trần Thị Kim Dung @ 09:20 27/12/2014
Số lượt xem: 364
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến